Tập thể là gì? Đặc điểm, cấu trúc, mối quan hệ giữa cá nhân và tập thể 

5/5 - (1 bình chọn)

Tập thể là gì? Là một khái niệm khi đi học, đi làm hay tham gia các hoạt động bạn sẽ thường được nghe đến. Hôm nay chúng ta sẽ đi tìm hiểu kĩ hơn về khái niệm, đặc điểm, cấu trúc,… của tập thể. Hãy cùng theo dõi bài viết dưới đây nhé. 

Tập thể là gì 

Tập thể được hiểu là nhóm chính thức có tổ chức cao, thống nhất và phục vụ mục đích chung, phù hợp với lợi ích xã hội. Nó luôn phù hợp lợi ích cá nhân và lợi ích chung (lợi ích tập thể và cả lợi ích xã hội).

Ví dụ: tập thể lớp 12a9; tập thể những cư dân sống tại cư xá Phú Lâm ; tập thể giáo viên trường THCS Ngô Quyền…

tap-the-la-gi
tập thể là gì

Đặc điểm của tập thể 

Đặc điểm cơ bản của tập thể hay dấu hiệu nhận biết tập thể là gì

Có sự thống nhất về mục đích hành động: Sự thống nhất về mục đích hành động gắn kết các thành viên tạo thành ý chí tập thể. Mục đích của tập thể là dài hạn và ngắn hạn, tùy thuộc vào nhu cầu và lợi ích của xã hội. Mục đích của tập thể được thiết lập ngay từ đầu và trở thành mục tiêu của từng cá nhân, từng bộ phận.

Có sự thống nhất về tư tưởng: là sự tổng hợp các quan điểm đạo đức và chính trị của đa số các thành viên trong tập thể. Nó đảm bảo một sự nhất quán của nhận thức về những gì đang xảy ra trong tập thể và trong xã hội và những gì đang xảy ra.

Có sự hợp tác và tương trợ: Đây là chức năng quan trọng để đảm bảo và duy trì sự tồn tại của tập thể. Nếu thiếu sự hỗ trợ, hợp tác lẫn nhau giữa các thành viên thì nhóm sẽ không thể là một tập thể có sự phù hợp giữa hành động và suy nghĩ.

Có sự lãnh đạo thống nhất và tập trung: phối hợp, điều hòa hoạt động của tập thể để họ thực hiện nhiệm vụ chung của tập thể một cách hiệu quả nhất.

Có kỉ luật làm việc: Đây là yêu cầu cơ bản đảm bảo cho hoạt động tập thể đạt được mục tiêu mong muốn. Kỷ luật có hai ý nghĩa cơ bản: xã hội và cá nhân. 

Chỉ có kỷ luật và một xã hội ổn định mới có thể vận hành nhịp nhàng và trật tự dẫn đến hiệu quả cao. Kỷ luật kết nối con người với máy móc vận hành theo một trật tự và hành vi cụ thể. Nó cũng đảm bảo sức khỏe con người và bảo vệ quyền tự do của người lao động.

Xem thêm từ vựng tiếng Anh chủ đề công sở

Cấu trúc của tập thể

Cấu trúc chính thức

Là tổ chức được hình thành từ các quy tắc tổ chức do pháp luật nhà nước ban hành. Trong cơ cấuchính thức, có những quy định rõ ràng về tổ chức hành chính, biên chế, xác định mối quan hệ giữa các bộ phận của tập thể, quan hệ cá nhân theo chiều ngang và chiều dọc và mối quan hệ với tập thể khác.

Cấu trúc chính thức của tập thể lao động là cơ cấu hành chính được pháp lý thừa nhận. Cơ cấu chính thức đảm bảo mối quan hệ hợp tác giữa những người lao động, giữ cho người lao động gắn bó với nhau trong quá trình làm việc có tổ chức, tạo bầu không khí lành mạnh, là tiền đề quan trọng cho hoạt động tập thể sôi nổi trong tập thể.

cau-truc-cua-tap-the
cấu trúc của tập thể

Cấu trúc không chính thức

Đây là những nhóm được thành lập không chính thức. Nói cách khác, đó là một nhóm không dựa trên quy định của nhà nước và tồn tại một cách tập thể.

Cơ sở để hình thành các nhóm không chính thức là tương hợp tâm lí, các khái niệm về thể chất tâm lý, cuộc sống, tuổi tác, nghề nghiệp và sở thích giữa các cá nhân, tức là mối quan hệ tình cảm giữa các thành viên trong nhóm không chính thức chặt chẽ hơn. 

Mối quan hệ này có ảnh hưởng sâu sắc đến tâm lý con người, hình thành nên những động cơ ứng xử của mỗi người, thể hiện đầy đủ phẩm chất của mình trong những điều kiện nhất định.

Đặc điểm này đòi hỏi người lãnh đạo phải tương tác với đám đông và tham gia vào các nhóm không chính thức để hiểu được tâm tư, nguyện vọng của họ, đồng thời điều kiện để giải quyết các vấn đề bất ngờ một cách nhanh chóng và hiệu quả. 

Trong các cấu trúc không chính thức, luôn có một người lãnh đạo. Danh tiếng của nhà lãnh đạo được tạo nên bởi kỹ năng, đạo đức, trình độ chuyên môn và sự quan tâm đến mọi người. Họ sẽ hỗ trợ tinh thần cho cả nhóm và được cả nhóm tin tưởng.

Mối quan hệ giữa cá nhân và tập thể 

Bắt đầu từ bản chất của xã hội là quan hệ giữa người với người, có quan hệ chặt chẽ, thống nhất, ảnh hưởng, tác động lẫn nhau. Mối quan hệ này vừa thống nhất, vừa đối lập trong mối quan hệ giữa mỗi người vì mọi người, mọi người vì mỗi người.

Khi mỗi người sống và làm việc trong một mối quan hệ tập thể, việc phát huy tính độc lập và đa dạng của mình trong tập thể đó sẽ tạo nên sự đa dạng của tập thể. Mỗi cá nhân có quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm khác nhau. Sự cam kết, thời gian, sự nhiệt tình và năng lượng của cá nhân làm cho nhóm có những hiệu quả nhất định.

Ngoài ra, mỗi tập thể được hình thành bởi các cá nhân và chỉ phát triển bền vững nếu mỗi cá nhân đều cống hiến cho các mục tiêu chung của tổng thể. Khi một tập thể mạnh, sẽ được đào tạo chuyên sâu, có mục đích rõ ràng và hỗ trợ các cá nhân, chắc chắn đó sẽ trở nên mạnh mẽ hơn và nhiều cá nhân sẽ muốn tham gia hơn. Đối với những tập thể yếu kém, kỷ luật không rõ ràng thì sớm muộn gì cũng sụp đổ.

Trong xã hội ngày càng phát triển, chủ nghĩa cá nhân với tâm lý vụ lợi muốn được hưởng thụ mà không hy sinh bản thân để cống hiến cho tập thể, hoặc sống buông thả, ngại va chạm, ngại đấu tranh với những cái xấu,….sớm muộn tập thể này cũng sụp đổ. Cá nhân phải tôn trọng, có trách nhiệm và nghĩa vụ đối với tập thể, có mối quan hệ bình đẳng, thân thiện, tương trợ giữa các cá nhân trong tập thể. Có như vậy thì cả cá nhân và tập thể mới có thể tồn tại và phát triển.

Xem lại từ vựng tiếng Anh chủ đề pháp luật

Các giai đoạn phát triển của tập thể

Theo quan điểm của các nhà nghiên cứu thì có 4 giai đoạn phát triển của tập thể, đó là

a) Giai đoạn tổng hợp sơ bộ 

Giai đoạn này bắt đầu khi các cá nhân mới tập hợp với nhau vì một mục đích hoặc hoạt động chung, chẳng hạn như một lớp hoặc tổ chức mới được thành lập. Các cá nhân đến từ những nơi khác nhau nên chưa hiểu nhau, và thừa nhận ra giá trị chung của tập thể.

Một đặc điểm nổi bật của giai đoạn này là các cá nhân không thể hiểu và thống nhất  với nhau. Tất cả mọi người đều khép mình và chưa dám bộc lộ bản thân. Kết quả là, các cá nhân bị thu hút lẫn nhau và các mối quan hệ cá nhân chủ yếu được sử dụng để khám phá lẫn nhau. 

Dư luận chưa hình thành trong tập thể, vì họ mới tập hợp và chưa hiểu nhau. Khi  một sự kiện xảy ra, rất khó để thống nhất ý kiến ​​đánh giá về sự kiện đó, vì mỗi người có những ý kiến ​​khác nhau và ngại nói ra.

Thời gian của giai đoạn này phụ thuộc vào loại tập hợp và đặc điểm của hoạt động chung của tập hợp. Đối với nhóm sinh viên, khoảng thời gian này có thể kéo dài trong một học kỳ. Nhưng khi nói đến các nhóm cảnh sát và binh lính, khoảng thời gian này ngắn hơn nhiều, đôi khi chỉ một vài tuần.

cac-giai-doan-phat-trien-cua-tap-the
các giai đoạn phát triển của tập thể

b) Giai đoạn phân hóa

Khi tập thể tồn tại một thời gian, một số người đã hiểu nhau, một phần là do hoạt động chung và giao tiếp. Họ tìm thấy điểm chung và tạo thành các nhóm nhỏ. 

Dựa trên thái độ của nhóm đối với yêu cầu tập thể, chúng có thể được chia thành ba nhóm.

  • Nhóm tích cực, tự nguyện đáp ứng các yêu cầu của tập thể. Những người này đã nhận ra những giá trị chung của tập thể và tích cực bảo vệ chúng.
  • Nhóm tiêu cực, bao gồm những người không tích cực trong các hoạt động chung, ít tích cực hơn và không tự giác tuân thủ các yêu cầu của nhóm. Những người này không hẳn là chống lại tập thể, nhưng họ vẫn xa cách với mọi người vì họ chưa ý thức được giá trị của nó.
  • Nhóm trung gian thỏa hiệp, bao gồm những người không hoàn toàn tích cực cũng không hoàn toàn tiêu cực. Họ đứng ở giữa và họ tuân theo bất kể bên nào mạnh hơn.

Tỷ lệ thành viên trong ba nhóm này phụ thuộc vào mức độ phát triển của tập thể. Ban đầu có thể nhóm tích cực ít người, nhưng sau đó số lượng thành viên sẽ tăng dần lên. Số người thuộc nhóm trung gian và nhóm tiêu cực giảm dần. Sự tách biệt này thành ra tập thể khó đạt được sự đồng thuận khi đánh giá một sự kiện, và khó hình thành dư luận. Rất khó để tạo ra một đánh giá chung, mỗi nhóm sẽ có cách đánh giá khác nhau khi một sự kiện xảy ra.

Thời gian của giai đoạn này tùy thuộc tính chất và đặc điểm của hoạt động tập thể như giai đoạn một.

Xem thêm các tài liệu khác về marketing tại AMA

c) Giai đoạn tổng hợp thực sự

Tập thể đã tồn tại từ lâu, các thành viên hiểu nhau thông qua các hoạt động giống nhau và thường xuyên liên lạc. Họ nhận ra những giá trị chung và có chung ý thức bảo vệ những giá trị đó. Mặc dù không phải 100% thành viên đều có chung quan điểm, nhưng hầu hết các thành viên đều tích cực trong hoạt động của mình và nhận thấy trách nhiệm với nhiệm vụ chung. 

Một đặc điểm của giai đoạn này là các thành viên gắn bó với nhau về nhận thức các giá trị chung. Dư luận tập thể nhanh chóng được hình thành và có vai trò rất mạnh mẽ trong việc điều chỉnh hành vi của các cá nhân. Các nhóm được tổ chức thành một khối và rất dễ đạt được thỏa thuận nếu bạn có vấn đề cần thảo luận.

d) Giai đoạn phát triển cao

Ở giai đoạn này, các cá nhân trong nhóm hoàn toàn có thể thấu hiểu, chia sẻ, dám thể hiện mình và được người khác công nhận. Tập thể thực sự đoàn kết và cùng nhau gắn bó. Các thành viên tự giác và có tinh thần trách nhiệm cao với nhóm. Đã có truyền thống và mọi người đều tự hào về điều đó. Các giá trị tập thể được đề cao và bảo vệ.

Khi có sự việc xảy ra, mọi người lập tức có tiếng nói chung. Cũng rất khó để phân biệt rõ ràng giữa giai đoạn này và giai đoạn thứ ba. Hai giai đoạn này có thể kéo dài trong vài năm. Đối với các cơ quan, đơn vị sự nghiệp giai đoạn này có thể mất 4-5 năm. Tuy nhiên, đối với khối sinh viên, giai đoạn này chỉ kéo dài đến đầu học kỳ cuối.

Theo nghiên cứu và thực tế đã cho thấy, sau giai đoạn này, tập thể không còn giống giai đoạn 3 và 4. Sau khi làm việc cùng nhau, mọi người hòa hợp với nhau đến mức không cần tìm hiểu thêm về nhau. Mọi người cũng định hình những đánh giá về nhau, sự lựa chọn quan hệ trở nên khá ổn định. Các nhóm không chính thức được hình thành rất rõ ràng, có biểu hiện “lì”, các cá nhân cũng giảm sức hấp dẫn do người khác không phải “tò mò” nữa.

Ở một khía cạnh nào đó, thời kỳ này có thể được coi là thời kỳ suy thoái của tập thể. Sự sụt giảm này là không phô trương và khó nhận ra. Tuy nhiên, các cá nhân có thể được chia thành nhiều nhóm khác nhau với những thái độ khác nhau đối với các giá trị chung. Một số người tin rằng khoảng một phần ba số thành viên của nhóm cần được thay thế để nhóm có được sức sống mới. Có các cá nhân mới, tập thể trở lại giai đoạn tổng hợp sơ bộ và phát triển tuần tự qua 4 giai đoạn.

Xem thêm từ vựng tiếng Anh về startup

Tập thể tiếng Anh là gì

Tập thể tiếng Anh là group hoặc collective

Với những chia sẻ trên đây của AMA, mong rằng các bạn sẽ thu nhặt cho mình các kiến thức cần thiết về tập thể là gì. Bạn có thể vận dụng tốt các kiến thức này để trở nên thành công hơn nhé. 

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.